Văn bản pháp luật

Báo cáo về việc góp ý dự thảo Thông tư thay thế TT 18/2013/TT.BGTVT

Hiệp Hội Vận Tải Ôtô Việt Nam

CƠ QUAN ĐẠI DIỆN TẠI TP.HCM

 

Số :  04/HH.CQDD

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

                      TP. Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng  07  năm 2014

                                                                                                              

 

 

V/v: Báo cáo về việc góp ý dự thảo Thông tư thay thế Thông tư 18/2013/TT.BGTVT

     Kính gửi: - Bộ Giao Thông Vận Tải (Vụ Vận Tải)

                      - Tổng Cục Đường Bộ Việt Nam

                      - Hiệp Hội Vận Tải Ô Tô Việt Nam

                                                                                                                     

 

-         Cơ quan đại diện Hiệp Hội Vận Tải ÔTô tại TP. HCM nhận được văn bản 7601/BGTVT ngày 26/06/2014 và văn bản 044/HHVT-TV của Hiệp Hội Vận Tải ÔTô Việt Nam về việc tổ chức góp ý Thông tư thay thế Thông tư 18/2013/B.GTVT “Quy định về tổ chức quản lý hoạt động vận tải bằng xe ô tô và dịch vụ hỗ trợ vận tải”.

-         Cơ quan đại diện đã mời các Hiệp Hội Cơ Sở tại TP. HCM và các doanh nghiệp HTX tiêu biểu về tham gia góp ý. Qua các ý kiến phản ảnh và đề xuất sửa đổi của các đại biểu đại diện, chúng tôi xin tổng hợp lại chuyển đến bạn soạn thảo nghiên cứu  điều chỉnh để phù hợp với tình hình hoạt động vận tải HTX thuận lợi cho người kinh doanh vận tải vừa đảm bảo công tài quản lý của nhà nước làm ổn định cho trật tự vận tải, đảm bảo an toàn giao thông đường bộ.

Tóm tắt các đóng góp ý kiến như sau :

I.                   Về hình thức :

          Trước đây vào tháng 05-06/2013 Bộ GTVT đã tổ chức chỉ đạo các Sở, Ngành, Hiệp hội tổ chức nhiều phiên hop góp ý sửa đổi Thông tư 14/2010 B.GTVT và ngày 06/08/2013 Bộ ban hành Thông tư 18/2013/ TT.BGTVT và hiện đang áp dụng trong khi Nghị định 91 và 93 chưa kịp sửa đổi. Nay trong lúc Bộ đang chỉ đạo tổ chức góp ý sửa đổi Nghị định 91 và 93, Nghị định chưa kịp ra đời thì tổ chức góp ý sửa đổi Thông tư 18/2013/TT.BGTVT về hình thức ban hành văn bản như là “Sinh con rồi mới sinh cha” chúng tôi e rằng khi Nghị định ra đời rồi lại sửa chữa Thông tư  …?? Ngoài ra trong dự thảo có một số chi tiết không hợp lý do công tác soạn thảo qua nhiều lần dự thảo rồi “cắt dán” mà không chú ý điều chỉnh cho phù hợp như, Thông tư chỉ có 60 điều mà nơi nhận “như điều 64” ở đâu ra? Điểm 3 điều 17 làm gì có khoản c …v..v..v.v..

II.               Về cơ bản các góp ý :

          So với Thông tư 18/2013/TT.BGTVT dự thảo sửa đổi lần này có nhiều điều thoáng hơn tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, HTX, nhưng bên cạnh đó những điểm không phù hợp vì nhầm lẩn giữa việc của doanh nghiệp, HTX mà nhà nước xen vào quản lý như :

1.     Khoản 3 điểm b và c Điều 4 : “ b/ Xây dựng kế hoạch bảo dưỡng sửa chữa phương tiện trên ……………………………………….” c/ Lập hồ sơ…………. tại………… của Thông tư này” (Đề nghị bỏ khoản 3 Điều 4 này vì đây là việc của DN, HXT).

2.     Khoản 7 Điều 4 (Hiệp Hội Xe Khách Liên Tỉnh Du Lịch góp ý)  qui định đối với đơn vị kinh doanh vận tải : “ Định kỳ 3 năm một lần, người điều hành vận tải phải tập huấn …”, Hiệp hội chúng tôi đề nghị bỏ khoản này vì ở đầu vào về điều kiện kinh doanh vận tải đã qui định: “người điều hành vận tải cần phải có văn bằng từ trung cấp vận tải trở lên hoặc văn bằng đại học thuộc các ngành khác” thì không cần phải có điều kiện: “3 năm phải tập huấn một lần và phải được cấp giấy chứng nhân tập huấn theo qui định của Tổng cục Đường bộ” như dự thảo mới quy định, vì việc tập huấn không thể nào tốt hơn người đã học và có văn bằng;

3.     Khoản 2 Điều 8 : Điểm đón, trả khách (Các DN, HTX góp ý)…… “Dừng tối đa không quá 2( hai) phút. Đề nghị cho 5 (năm) phút.

4.     Khoản 2 Điều 10 (Hiệp hội Xe Khách Liên Tỉnh Du Lịch góp ý) qui định các xe chạy tuyến cố định phải được đánh số thứ tự ghế trên xe. Đây là điều hợp lý, tuy nhiên trên thực tế lực lượng công an trên đường vẫn cứ phạt lỗi vi phạm không đánh số thứ tự ghế trên xe đối với cả hai đối tượng khác là: xe khách vận chuyển theo hợp dồng và xe khách vận chuyển khách du lịch. Đây là hai dối tượng về bản chất không cần phải đánh số thứ tự ghế trên xe.

          Đề nghị của Hiệp hội chúng tôi là, nhân sửa đổi kỳ này Thông tư nên ghi minh thị 2 loại xe du lịch và hợp đồng không cần phải đánh số thứ tự ghế trên xe hoặc BGTVT cần có văn bản đế thống nhất với ngành Công an về việc này để anh em lái xe không bị phạt oan vì Nghị định 171 không nói rõ điều này;

5.      Điều 14 về việc “Bổ sung, thay thế xe khai thác trên tuyến, (Hiệp Hội Xe Khách Liên Tỉnh Du Lịch góp ý) tuy chúng tôi  đã kiến nghị rất nhiều lần là cần có quy định bổ sung: “Cho phép thay thế các xe hư hỏng đột xuất ở ngay trong bến xe (trước khi xuất bến) hoặc trường hợp xe bị hư hỏng dọc đường”. Tuy nhiên, cho đến nay cả trong dự thảo thông tư mới vẫn không dự liệu điều này, gây khó khăn trong quá trình hoạt động của các DN-HTX.

 Đề nghị của các DN, HTX chúng tôi về vấn đề này là:

-         Nếu xe hư hỏng ngay tại bến, thì bến xe được Sở GTVT sở tại uỷ quyền cấp ngay phù hiệu mới cho xe thay thế như Sở GTVT TP.HCM đang tạm áp dụng;

-         Nếu xe hư hỏng trên đường thì được sử dụng phù hiệu của xe cũ cho đến hết lượt đi và lượt về của chuyến đó;

6.     Điều 17 “ Trách nhiệm của DN, HTX kinh doanh vận tải” : “Về tổ chức tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ vận tải…….lưu hồ sơ chương trình kết quả tập huấn”

          Hiện nay trên đường ở một số tỉnh, số nơi, cảnh sát giao thông, Thanh tra giao thông, luôn cả ban quản lý các Bến xe đòi phạt khi người phục vụ trên xe không có giấy xác nhận đã tập huấn, nhưng khi phạt thì các lực lượng này ghikhông có nhân viên phục vụ trên xe. Do trong các Nghị định, Thông tư không có khoản nào quy định phạt không có giấy tập huấn. Đề nghị Thông tư làm rõ vấn đề này, bởi vì theo như dự thảo khi tập huấn xong phải có “lưu hồ sơ kết quả tập huấn” Do vậy khi tập huấn xong, tổ chức tập huấn nên có xác nhận kết quả cho nhân viên để cập nhật hồ sơ và không gặp khó khăn trên đường.

7.     Khoản 2đ Điều 18 (Hiệp Hội Xe Khách Liên Tỉnh  Du Lịch góp ý) về việc không cho xuất bến và báo cáo Sở GTVT để xử lý theo quy định của các trường hợp sau : …“Giấy đăng ký xe hoặc giấy phép lái xe hết thời hạn hoặc bị cơ quan chức năng thu giữ từ thời điểm trước khi thực hiện lệnh vận chuyển hiện tại”. Hiệp hội chúng tôi đề nghị nên xử lý theo cách mà ngành CSGT đang áp dụng khi xử phạt theo nghị định 171, tức là “giấy biên nhận xử phạt còn thời hạn hẹn giải quyết” vẫn được cho xe xuất bến.

8.     Khoản 1 Điều 21 và khoản 3 Điều 40 qui định phải có trang bị bình chữa cháy trên xe, đây là điều đúng, tuy nhiên cần minh thị thêm là bình chữa cháy “còn hạn sử dụng” hay “còn hạn bảo hành” để tránh tranh cãi, cũng như phạt vạ liên quan đến vấn đề này trên thực tế;

9.     Điều 32: Quy định đối với xe Taxi (Hiệp Hội Taxi góp ý) Khoản 3: Sửa lại: “Hai bên cánh cửa xe  có sơn hoặc dán biểu trưng (logo) của doanh nghiệp, hợp tác xã”.

10.                         Điều 36 Quyền hạn, trách nhiệm lái xe: Khoản 2: Thêm: khi có thiết bị in hóa đơn : thì lái xe phải đưa hoá đơn (được in trên thiết bị) cho khách hàng sau khi kết thúc chuyến đi (nội dung hoá đơn đã được duyệt theo phần mềm thiết bị này).

11.                         Khoản 1 Điều 39 qui định về tổ chức và quản lý hoạt động VTHK theo hợp đồng , và khoản 1 điều 41 về quản lý hoạt động vận chuyển khách du lịch, Hiệp hội chúng tôi đề nghị cần bổ sung là chỉ được phép đón và trả khách tại các điểm ghi trong hợp đồng, loại trừ các điểm như: Văn Phòng của đơn vị, điểm bán vé, hoặc thường xuyên rước, trả khách tại một điểm để hình thành các điểm rước khách không đúng  qui định (điểm xe dù); nhằm hạn chế đến mức thấp nhất việc lợi dụng xe hợp đồng hoạt động vận tải ngoài luồng tuyến, bến bãi quy định (thường được gọi là xe dù) như hiện nay;

12.                         Khoản 3 Điều 39 (Hiệp Hội Xe Khách Liên Tỉnh Du Lịch góp ý) về tổ chức và quản lý hoạt động VTHK theo hợp đồng và khoản 3 điều 41, về tổ chức hoạt động vận chuyển khách du lịch, Hiệp hội chúng tôi đề nghị bỏ khoản: “phải thông báo trước cho Sở Giao thông sở tại trước khi thực hiện hợp đồng”, vì những qui định này đã có dự liệu lùi thời gian áp dụng đến tháng 7/2015, nhưng thực chất chỉ làm tăng thêm  khối lượng công việc của cả các DN-HTX cũng như của Cơ quan nhà nước, chứ không đem lại lợi ích thiết thực nào. Đề nghị này trước đây đã được Tổng cục Đường bộ- Bộ GTVT tiếp thu “bỏ” trong lần dự thảo thứ 2 nhưng đến nay lại tiếp tục ghi vào;

13.                         Điều 45 Đề nghị bỏ Khoản 8: “Đơn vị kinh doanh vận tải có trách nhiệm nộp lại cho Sở Giao thông vận tải phù hiệu phương tiện bổ sung để phục vụ vận chuyển khách trong các dịp Lễ, Tết và các kỳ thi tuyển sinh ......ngay sau khi phù hiệu hết hiệu lực”.

14.                         Điều 46 Quy định về xe ôtô vận tải hàng hóa (Hiệp Hội Vận Tải Hàng Hóa góp ý bổ sung khoản 1; điểm b, c khoản 2, 4, 5)

Bổ sung quy định nội dung khoản 1. Niêm yết thông tin: niêm yết tên, số điện thoại đơn vị kinh doanh vận tải; trọng lượng bản thân của xe, khối lượng hàng hóa được phép chở, khối lượng toàn bộ cho phép tham gia giao thông được ghi nhận trên giấy chứng nhận ATKT và bảo vệ môi trường theo mẫu quy định tại Phụ lục 32 của Thông tư này.

Lý do: hiện nay thông tin trên giấy đăng ký và giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường là khác nhau ( kể từ ngày thực hiện văn bản hợp nhất số 06/VBHN của Bộ GTVT ngày 7/2/2014 ). Vì vậy phải ghi rõ thông tin được ghi nhận tại giấy chứng nhận ATKT và bảo vệ môi trường của phương tiện để có tính thống nhất.

Bỏ quy định tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 46.

 Đối với rơ mooc, sơ mi rơ mooc có thùng chở hàng: niêm yết ở mặt ngoài hai bên thùng xe;

Đối với rơ mooc, sơ mi rơ mooc không có thùng chở hàng: niêm yết thông tin trên bảng bằng kim loại được gắn với khung xe tại vị trí dễ quan sát bên cạnh hoặc phía sau.

Lý do: Thông tin doanh nghiệp thì đã được niêm yết trên đầu kéo, còn thông tin về tải trọng SMRM thì đã quy định cụ thể trong giấy kiểm định ATKT và bảo vệ môi trường. Vì vậy không cần thiết phải quy định như điểm b, điểm c nói trên. Ngoài ra,  việc lắp thêm biển báo này phức tạp, khó khăn trong việc bảo quản…và làm gia tăng chi phí không cần thiết cho doanh nghiệp. Chưa nói đến việc lưu thông hàng ngày trên đường rất khó bảo đảm cho việc thông tin trên các biển báo này không bị che mờ vì cát bụi.

Khoản 4 điều 46 được sửa lại:  Xe ô tô kinh doanh vận tải hàng hóa bao gồm xe tải, xe đầu kéo kéo rơ mooc hoặc sơ mi rơ mooc vận chuyển chở hàng hóa, công – ten – nơ phải có phù hiệu “xe tải”.

Lý do: Hiện nay xe đầu kéo kéo sơ mi rơ mooc đa năng rất cơ động: lúc thì vận chuyển hàng hóa ( các loại hàng rời ), lúc thì vận chuyển hàng công – ten – nơ nên không thể có hai phù hiệu “XE CÔNG - TEN - NƠ” và phù hiệu “XE TẢI” được.

Vì vậy, chỉ cần thống nhất một phù hiệu chung cho xe tải và xe đầu kéo kéo rơ mooc hoặc sơ mi rơ mooc để thuận lợi cho doanh nghiệp.

Khoản 5: Bỏ khoản 5, tương ứng bỏ luôn phụ lục quy định phù hiệu xe Công – ten – nơ

Lý do: như đã trình bày trên.

15.                         Điều 47 Hợp đồng Vận Tải, giấy vận tải Bỏ khoản 1. Quy định về : Hợp đồng vận tải gồm các thông tin sau: tên đơn vị vận tải; tên đơn vị hoặc người thuê vận chuyển; loại và khối lượng hàng hóa; hành trình; địa chỉ và thời gian giao hàng, nhận hàng; giá cước vận tải; hình thức thanh toán; các điều khoản thỏa thuận khi giao hàng, bồi thường, giao nhận giấy tờ liên quan đến hàng hóa và các vấn đề khác có liên quan đến quá trình vận tải.

          Lý do:                                                                        

Đối với xe tải chở hàng hóa là các dạng hàng rời, giá cước được tính theo tấn/km và áp dụng theo loại hàng hóa, nên thông tin về giá cước vận tải là thông tin thuộc bí mật kinh doanh của doanh nghiệp, không thể đưa cho lái xe mang theo trong quá trình vận chuyển. Hơn nữa, nội dung hợp đồng là do các bên thỏa thuận, nên không cần quy định trong thông tư này. Đối với doanh nghiệp kinh doanh xe tải, xe đầu kéo kéo sơ mi rơ mooc chở công ten nơ thì đối với họ hàng hóa là công ten nơ, giá cước được tính theo đơn vị từng công ten nơ và khoảng cách, tuyến đường vận chuyển. Họ chỉ ký hợp đồng nguyên tắc một năm một lần, do đó loại, khối lượng hàng hóa quy định như khoản 1 của dự thảo là không chính xác, có thể thay đổi liên tục.  Thậm chí trong thực tế hoạt động, nhiều khi khách hàng yêu cầu vận chuyển chỉ cần qua mail, fax, điện thoại…vv, doanh nghiệp vận tải xác nhận yêu cầu và chủ động điều động phương tiện thực hiện ngay đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Do vậy, có thể trong một ngày thực hiện yêu cầu vận chuyển của nhiều chủ hàng với nhiều loại hàng hóa, khối lượng khác nhau. Thông thường hàng tháng các bên liệt kê, đối chiếu khối lượng vận chuyển công ten nơ thực tế được tính trên cơ sở là teu để thanh toán tiền. Cho nên Dự thảo Thông tư quy định về hợp đồng vận tải là không cần thiết.

Sửa đổi phụ lục số 33 quy định tại điểm c khoản 3 điều 47

Lý do: mẫu phụ lục số 33 ban hành kèm theo bản Dự thảo Thông tư quy định quá phức tạp, nhiều thông tin không cần thiết, không phù hợp với thực tế. Ví dụ: không cần ghi thông doanh nghiệp theo mẫu quy định vì mẫu giấy vận tải do doanh nghiệp phát hành nên thông thường trên tiêu đề đã ghi đầy đủ thông tin doanh nghiệp; không cần ghi thông tin lái xe vào giấy vận tải vì thông tin lái xe đã quy định trên thiết bị giám sát hành trình, ngoài ra nếu vận tải đường xa, để bảo đảm an toàn giao thông và an toàn cho hàng hóa của khách hàng, doanh nghiệp thay đổi lái xe thì không thể ghi thông tin hai lái xe trên một giấy vận tải hoặc hai giấy vận tải cho một chuyến hàng…vv

16.                         Điều 48 Quy định đối với đơn vị vận tải hàng hóa.

Bỏ nội dung: được cấp chứng chỉ tập huấn nghiệp vụ theo chương trình do Tổng cục Đường bộ Việt Nam ban hành tại khoản 7 điều 4 và điểm d khoản 4 điều 48. Sửa lại nội dung tại các điều khoản này: Định kỳ 3 (ba) năm một lần, người điều hành vận tải phải được tập huấn nghiệp vụ.

Lý do: Tại điểm d khoản 4 điều 12 Dự thảo Nghị định kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô đã quy định người điều hành vận tải phải:   Có trình độ chuyên môn về vận tải từ trung cấp trở lên hoặc có trình độ từ cao đẳng trở lên đối với các chuyên ngành khác và có thời gian công tác liên tục tại đơn vị vận tải từ 03 (ba) năm trở lên.

Vì người quản lý điều hành vận tải đã có trình độ từ trung cấp trở lên và đã công tác liên tục tại đơn vị vận tải từ 3 năm trở lên nên không cần thiết phải: cấp chứng chỉ tập huấn nghiệp vụ theo chương trình do Tổng cục đường Bộ Việt Nam ban hành. Chứng chỉ tập huấn không thể có giá trị như bằng cấp chính quy do Nhà nước đã cấp cho người điều hành vận tải.

17.                         Điều 55 Tổng cục Đường bộ Việt Nam

Bỏ một phần nội dung: cấp chứng chỉ tập huấn nghiệp vụ ; Khoản 3 điều 55 xin sửa lại thành: Ban hành quy định về tập huấn cho người điều hành vận tải tại các đơn vị kinh doanh vận tải.

Lý do: vì không cần phải cấp chứng chỉ tập huấn như đã trình bày nói trên.

Khoản 4 Điều 55 : Đề nghị bổ sung như sau :

Chủ trì, phối hợp với Hiệp hội Vận tải ô tô Việt Nam biên soạn, phát hành tài liệu, chương trình khung tập huấn nghiệp vụ vận tải, an toàn giao thông, nâng cao trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp cho lái xe, nhân viên phục vụ trên xe và người điều hành vận tải tại các đơn vị kinh doanh vận tải, có xác nhận kết quả cho người được tập huấn để lưu hồ sơ.

          Trên đây là nội dung góp ý dự thảo Thông tư của phiên họp, kính mong ban soạn thảo, Bộ giao thông vận tải, Tổng cục Đường bộ Việt Nam nghiên cứu, xem xét chỉnh sửa để dự thảo được hoàn chỉnh hơn khi đưa vào thực hiện.

 

 

 

Nơi nhận:

- Như trên

- Lưu CV          

HH VẬN TẢI Ô TÔ VIỆT NAM

PHÓ CHỦ TỊCH

TRƯỞNG CƠ QUAN ĐẠI DIỆN

TẠI TP. HỒ CHÍ MINH

 

 

 

 

 

HỒ VĂN HƯỞNG